Saturday, November 12, 2011

Đằng sau việc Mỹ chuẩn bị triển khai quân tới Australia

(12/11/2011 14:49:00) - Báo chí Australia và Mỹ cùng đưa tin rằng Tổng thống Barack Obama sẽ nhân chuyến thăm tới Australia vào tuần tới để thông báo rằng Washington sẽ cho đồn trú binh sĩ tại một căn cứ ở Darwin - một bước thay đổi lớn về mặt địa lý chiến lược.

Lãnh đạo Mỹ và Australia sẽ đưa ra quyết định trong cuộc gặp vào tuần tới.

Không phủ nhận


Theo báo chí hai nước, Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ nhân chuyến công du Australia ngay sau khi kết thúc Hội nghị cấp cao APEC do ông chủ trì ở Hawaii, và tại Australia, người đứng đầu Nhà Trắng sẽ thông báo gửi Thủy quân Lục chiến sang đóng tại Darwin.

“Sự kiện Mỹ đưa các đơn vị tác chiến sang Australia là một bước thay đổi lớn về mặt địa lý chiến lược”, tờ Sydney Morning Herald của Australia viết.

Theo tờ báo, ngày 16/11, Tổng thống Mỹ sẽ đến thủ đô Canberra và sau đó lên thành phố Darwin ở vùng cực bắc nơi mà ông sẽ thông báo thành lập một căn cứ quân sự cho Thủy quân Lục chiến Mỹ.

Bài báo nói Mỹ sẽ không xây dựng một căn cứ mới tại thành phố, mà sẽ sử dụng căn cứ Robertson Barracks đã có sẵn ở gần đó.

Trong khi đó, giới lãnh đạo chính trị Australia tuy từ chối bình luận về thông tin này nhưng cũng không phủ nhận.

Ngoại trưởng Australia Kevin Rudd giải thích là hãy để cho lãnh đạo cao cấp nhất của hai nước chính thức loan báo kế hoạch “hợp tác quốc phòng giữa hai đồng minh”.

“An ninh quốc gia của Australia gắn liền với liên minh quốc phòng vững chắc với Mỹ”, ông nhấn mạnh.

Trong khi đó, phát ngôn viên bộ Quốc phòng Mỹ George Little tuyên bố một cách khéo léo với báo giới: “Australia là bạn và đồng minh của Mỹ, do vậy hai bên sẽ tiếp tục hợp tác và tăng cường quan hệ quân sự.

Một nhật báo khác của Australia, tờ The Autralian, cho biết thêm là ngoài Darwin, nhiều địa điểm khác đang được Mỹ và Australia nghiên cứu, trong đó có Perth ở phía tây.

Nếu Darwin được chọn thì lực lượng Mỹ sẽ đồn trú trong căn cứ Robertson Barracks. Nơi đây cũng là hậu cứ của khoảng 4.500 quân Australia.

Kế hoạch này sẽ thắt chặt quan hệ đồng minh quân sự từ 60 năm qua và củng cố sự hiện diện của Mỹ tại châu Á.

Trong diễn văn đọc tại cuộc hội thảo quốc phòng vào ngày hôm qua 11/11, Bộ trưởng Quốc phòng Australia Stephen Smith nhận định là trong tương lai sẽ có thêm nhiều cuộc thăm viếng của chiến hạm, của máy bay quân sự cũng như sẽ có nhiều cuộc tập trận chung tại bắc Australia và tích trữ trang bị quân sự.

Tại sao quân đội Mỹ lại cần thêm căn cứ tại Australia?

Hiện nay, trong vùng Thái Bình Dương, Mỹ đã có hai căn cứ lớn tại Okinawa và Guam.

Lý do ông Obama đưa ra quyết định triển khai quân đến Australia là gì, vì từ trước đến nay, Mỹ chỉ có một số hoạt động giới hạn tại Australia, kể cả tại trung tâm vệ tinh tình báo gần Alice Spring?

“Đây là dấu hiệu cho thấy có mối quan ngại càng ngày càng lớn trước sức mạnh quân sự của Trung Quốc”, tờ Sydney Morning Herald của Australia viết.

“Bắc Kinh mỗi năm mỗi tăng ngân sách quốc phòng và gấp rút tăng cường vũ khí. Vụ thử tàu sân bay đầu tiên hồi tháng 8/2011là một hình thức để Trung Quốc bày tỏ tham vọng trên biển đã gây phản ứng lo ngại từ các nước trong vùng cho đến tận Mỹ”.

Các nhà phân tích Australia cũng cho rằng “đối tượng” của dự án này là mối đe dọa của Trung Quốc.

Chuyên gia Georffrey Garrett, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Mỹ tại đại học Sydney, phân tích: “Trung Quốc là một đối tượng quan trọng của Mỹ và Australia”.

“Chiến lược đối phó của Washington dựa trên hai cột trụ: thứ nhất là củng cố quan hệ với đồng minh và với các nước bạn trong vùng để đề phòng sức mạnh quân sự của Trung Quốc biến chất”.

“Cột trụ thứ hai là xây dựng một cấu trúc kinh tế khu vực dựa trên cơ sở kinh tế thị trường của Mỹ và Australia để về lâu về dài Trung Quốc có thể gia nhập. Tuy rằng Bắc Kinh vẫn còn do dự vì không muốn phải cải cách nội bộ”.

Dẫn lời các giới chức Mỹ và Australia, tờ The Wall Street Journal ngày 11/10 đưa tin rằng việc tăng cường sự hiện diện quân sự Mỹ tại Australia nhằm chứng minh cam kết của Mỹ đối với khu vực.

Tờ báo cho rằng động thái này nằm trong nỗ lực của Mỹ nhằm tái tập trung vào châu Á, khi nước này này rút quân khỏi Iraq và Afghanistan.

Việt Hà/Theo Dân trí
-->Đọc thêm...

Mỹ phong tỏa Trung Quốc và các quốc gia "bị bắt cóc"

(12/11/2011 12:37:23) - Theo Phương Đông báo, dù Mỹ phong tỏa toàn diện, cũng không thể ngăn chặn quân đội Trung Quốc hoạt động bình thường.
Thời gian gần đây, cuộc chiến tranh ở nước ngoài được Mỹ tiến hành trước đây đang nhanh chóng bước vào giai đoạn “thu binh”: Chiến sự ở Libya đã kết thúc, Obama tuyên bố sẽ rút quân toàn diện khỏi Iraq, còn quân Mỹ ở Afghanistan sớm muộn cũng sẽ rút về. Trong bối cảnh này, Mỹ bắt đầu đem mối quan tâm quân sự nhiều hơn tới châu Á-Thái Bình Dương.
 

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ mới có chuyến thăm châu Á, ông khẳng định Mỹ sẽ không giảm sự hiện diện quân sự tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương nhằm đối phó với các mối đe dọa mới

Gần đây, khi đến thăm khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta nhấn mạnh, mặc dù hiện nay tình hình kinh tế Mỹ khó khăn, chi phí quân sự phải đối mặt với cắt giảm, nhưng việc triển khai quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ không suy giảm.

Đồng thời, Mỹ cũng đã tham gia một loạt “hội nghị quốc tế”, tìm cách thiết lập điểm đứng chân về quân sự mới ở châu Á-Thái Bình Dương. “Quân đội Mỹ tăng cường triển khai quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương” trở thành một đề tài nóng hổi của dư luận quốc tế.

“Phong toả toàn diện” Trung Quốc không thực tế

Đối với Mỹ, mục đích tăng cường triển khai quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương là gì? Phải chăng họ muốn tiến hành “phong toả toàn diện” đối với Trung Quốc? Nhìn vào tình hình triển khai quân sự của quân đội Mỹ hiện nay cho thấy, thực sự tiến hành “phong toả toàn diện” đối với Trung Quốc hoàn toàn không thực tế.

Trong thời kỳ hoà bình, một quốc gia sử dụng đường thuỷ quốc tế và vùng biển quốc tế để tiến hành đi lại, giao lưu, bao gồm việc hoạt động bình thường của lực lượng quân sự là rất bình thường. Quân đội Mỹ triển khai nhiều căn cứ hơn ở những khu vực này cũng không thể ngăn chặn lực lượng trên biển của Trung Quốc hoạt động bình thường ở đường thủy quốc tế và vùng biển quốc tế.

Trên thực tế, Mỹ tăng cường triển khai quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương phần nhiều là tiến hành chuẩn bị cho chiến sự. Mỹ cách xa khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một khi “có sự”, họ buộc phải dựa vào các căn cứ của khu vực này, nếu không sẽ không thể hoàn thành triển khai binh lực, không thể hoàn thành hành động tác chiến. Vì vậy, động thái này của Mỹ phần nhiều là tập trung cho chiến sự.
 

Hải quân Mỹ và Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản vừa có cuộc tập trận chung ở biển Hoa Đông

Như vậy, tiến hành triển khai bố trí tiền duyên như thế sẽ “phong toả toàn diện” Trung Quốc hay không? Nếu Trung-Mỹ xảy ra đối đầu toàn diện, thậm chí là chiến tranh, đối với đa số người, đây là điều không thể tưởng tượng.

Dù sao, hai cường quốc này cũng có quan hệ chặt chẽ về kinh tế thương mại, dùng thủ đoạn chiến tranh giải quyết vấn đề sẽ tạo ra cục diện đôi bên đều thiệt hại. Cho dù có xảy ra tình huống cực đoan này (đối đầu toàn diện, chiến tranh), việc triển khai tiền duyên và căn cứ của Mỹ sẽ đặt trong mối đe doạ tấn công hoả lực chính xác tầm xa của đối phương.

Nếu đối phương có đủ vũ khí tấn công hoả lực chính xác tầm xa mạnh, những căn cứ này liệu có còn tồn tại? Nếu không thể tồn tại, liệu có thể “phong toả”?

Đồng minh châu Á-Thái Bình Dương lo ngại trở thành “con tin”

Thực ra, Mỹ triển khai quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, hoàn toàn không giống như người ta lầm tưởng đơn thuần là “phong toả” Trung Quốc.

Trước hết, Mỹ thông qua động thái này để gây sức ép với Trung Quốc, tiến hành răn đe; mặt khác, bảo đảm cho họ có đủ vai trò ảnh hưởng và khả năng răn đe đối với tất cả các nước ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Nhìn từ góc độ đó, tờ Phương Đông viết: ứng xử với việc triển khai quân sự của Mỹ cần phải có con mắt bình thản, bình tĩnh.

Nhìn từ góc độ của các nước khác ở châu Á, bề ngoài họ hoặc trong ngắn hạn có thể được lợi một chút, đó là lợi ích cục bộ. Nhưng về lâu dài, điều này cũng tạo ra sức ép và tác động to lớn đối với các nước này.
 

Trong thời gian gần đây, tàu sân bay USS George Washington tích cực hiện diện ở Tây Thái Bình Dương và tham gia tập trận chung

Cách đây không lâu, báo giới Australia đã đề xuất một quan điểm: Việc triển khai lực lượng quân sự của Mỹ một khi hình thành nên sự đối đầu Trung-Mỹ, Australia sẽ rơi vào trạng thái “bị bắt cóc”.

Thực ra, quan điểm này của báo giới Australia đã phản ánh vấn đề mà tất cả các nước châu Á-Thái Bình Dương và khu vực phải đối mặt.

Lực lượng quân sự của Mỹ một khi tiến vào lãnh thổ của các nước này, những nước này sẽ trở thành một phần triển khai quân sự tiền duyên của Mỹ. Một khi Mỹ và các nước khác, khu vực xảy ra đối đầu quân sự, họ thực sự phải trở thành một bên giao chiến, rơi vào trạng thái “bị bắt cóc”, đối với những nước này, rõ ràng không phải là một việc tốt.

Đồng thời, việc triển khai lực lượng quân sự của Mỹ vào các nước này tất sẽ tác động to lớn đối với cuộc sống bình thường, thậm chí chính trị, ngoại giao của các nước này.

Uy hiếp quốc phòng Trung Quốc ở trên biển

Từ góc độ của Trung Quốc, Trung Quốc phải dùng tâm thế bình thản hơn để ứng xử, phản ứng quá mức sẽ gây ra sóng gió. Có quan điểm cho rằng, kinh tế Trung Quốc hiện nay phụ thuộc rất lớn vào thương mại và giao thông trên biển, tuyến đường giao thông năng lượng hầu như toàn bộ đến từ trên biển, Mỹ triển khai quân sự phải chăng tạo ra mối đe doạ cho “tuyến đường huyết mạch” trên biển của Trung Quốc?

Đối với vấn đề này, mối đe doạ thực sự của tuyến đường giao thông trên biển và năng lượng trên biển hoàn toàn không phải là khu vực duyên hải ở trước mắt, bởi vì những tuyến đường giao thông trên biển này có một sự kéo dài rất lớn, lan khắp các nơi trên thế giới. Còn mối đe doạ quốc phòng thực sự nằm ở trên biển cách xa đất liền.
 

Trung Quốc đang đẩy mạnh phát triển vũ khí chống can dự. Trong hình là tàu hộ tống tên lửa 054A Hoàng Sơn phòng tên lửa phòng không Hồng Kỳ

Nhìn từ góc độ khác, lực lượng quân sự chỉ là một phòng tuyến cuối cùng bảo vệ an ninh bản thân. Mỹ dùng phương thức triển khai quân sự tiền duyên gây sức ép với Trung Quốc cũng không “cao tay”, do họ phải chi phí nhiều hơn, đây cũng là một gánh nặng rất lớn.

Báo Đông Phương viết: đối mặt với sức ép, Trung Quốc cần luôn tăng cường xây dựng sức mạnh quốc phòng của mình, tăng cường nghiên cứu phát triển và trang bị các biện pháp đáp trả. Mà chiến trường thực sự là các lĩnh vực đằng sau lực lượng quân sự như kinh tế, công nghệ, ngoại giao, văn hoá. Những lĩnh vực này có thể có ý nghĩa quan trọng hơn đối với tương lai.


 
Việt Dũng (Theo báo Phương Đông/GDVN)
-->Đọc thêm...

Trung Quốc phát triển thành công tiêm kích cho tàu sân bay

(12/11/2011 12:30:37) - J-15 là loại máy bay hạng nặng được thiết kế cho tàu sân bay, có bán kính tấn công và trọng tải lớn, thời gian tuần tra dài.
Nhiều nguồn tin cho biết, tàu sân bay đầu tiên Varyag (Thi Lang) của Trung Quốc sắp tiến hành chạy thử trên biển lần thứ hai, đồng thời chuẩn bị bay thử máy bay trang bị cho tàu sân bay.

Về vấn đề này, Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết, tàu sân bay vẫn đang tiến hành công tác cải tạo và kiểm tra trong nhà máy.
 

Hải quân Trung Quốc: Máy bay chiến đấu trang bị cho tàu sân bay J-15 bay thử

Tuy nhiên, tờ “Kanwa Defense Review” của Canada đưa tin, cách đây không lâu, Hải quân Trung Quốc đã cho bay thử máy bay chiến đấu J-15 ở khu vực phụ cận đảo Hồ Lô, tỉnh Liêu Ninh, điều này có nghĩa là máy bay chiến đấu J-15 sẽ trở thành máy bay trang bị cho tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc.

Các chuyên gia trong ngành cho rằng, Trung Quốc thuộc thành viên mới của “Câu lạc bộ tàu sân bay”, nhưng tàu sân bay đầu tiên được trang bị máy bay hạng nặng, khởi đầu như vậy rõ ràng không tồi.

Nhà nghiên cứu Viện nghiên cứu Trang bị Không quân Cơ Vĩnh Hưng cho biết, máy bay J-15 của Trung Quốc thực sự đã nghiên cứu phát triển thành công, nhưng các loại phỏng đoán của báo chí nước ngoài đối với loại máy bay này vẫn còn đợi xác nhận chính xác.

J-15 có ưu thế hơn máy bay trang bị cho tàu sân bay của Âu-Mỹ?

Biên tập viên có thâm niên của tờ “Tin tức Quốc phòng” Mỹ Christopher Cavas cho rằng: “Khách quan mà nói, so với máy bay hạng trung chủ lực trang bị cho tàu sân bay của các nước phát triển Âu-Mỹ như F-18E/F, F-35C của Mỹ, Rafale-M của Pháp, tính năng tổng hợp của J-15 hoàn toàn không có ưu thế tuyệt đối, nhưng máy bay hạng năng có các ưu thế rất rõ ràng như bán kính tấn công và trọng tải lớn, thời gian tuần tra dài”.
 

J-15 thiết kế giống Su-33 của Nga

Điều quan trọng hơn là, Christopher cho rằng, J-15 được trực tiếp thiết kế làm máy bay trang bị cho tàu sân bay, chứ không phải được cải tiến từ một loại máy bay nào đó trở thành máy bay trang bị cho tàu sân bay.

Điều này cho thấy, về công nghệ, J-15 hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu của tàu sân bay, giống với máy bay F-18 của Mỹ, có thể phát huy tối đa hiệu quả chiến đấu của nó, điều này cũng làm cho J-15 chiếm một vị trí nhất định trong những máy bay chiến đấu cùng loại trên thế giới.

Christopher cho rằng, máy bay là một bộ phận quan trọng nhất của hệ thống tác chiến tàu sân bay, quá trình nghiên cứu phát triển không dễ dàng. Trung Quốc đối mặt trực tiếp với khó khăn, thách thức ngay từ khi bắt đầu nghiên cứu phát triển, dù trình độ công nghệ của J-15 thế nào, đối với Trung Quốc, nó là một loại máy bay chiến đấu mới mang tính cột mốc.

Cánh gấp khi đậu trên tàu sân bay

- Có thể gấp cánh: giảm được diện tích sử dụng, bên trong lắp thiết bị thủy lực hoặc khí nén.

- 50 chiếc: Tàu sân bay Varyag có thể trang bị 50 máy bay, trong tương lai sẽ bao gồm máy bay J-20, J-15 và máy bay cảnh báo sớm.

- 24 chiếc: Số lượng máy bay J-15 theo suy đoán của báo chí nước ngoài là 24 chiếc, là tiêu chuẩn thông thường do Hải quân xác định.
 

Máy bay chiến đấu trang bị cho tàu sân bay J-15 có thể gấp cánh khi đậu trên tàu sân bay, tiết kiệm được diện tích đường băng (ảnh minh hoạ từ tàu sân bay Nga)

- Trọng lượng rỗng nhẹ hơn: Đuôi buông và một phần cánh của máy bay J-15 sử dụng vật liệu composite nhiều hơn J-11B, do đó trọng lượng rỗng nhẹ hơn, theo đó có thể tăng lượng tải đạn.

- Hệ thống kiểm soát hỏa lực tiên tiến hơn: Áp dụng 2 tấm khung hiển thị LCD màu đa năng cỡ lớn, chỉ giữ lại rất ít máy móc cơ điện, thực hiện “kính hóa” buồng lái.

- Radar do thám rộng hơn: Đã tăng cường khả năng tìm kiếm trên biển và dẫn đường tên lửa chống hạm.

- Bán kính tác chiến: Có thể đạt 200 - 500 km (máy bay tiếp dầu), buộc đối phương cách xa tàu sân bay Trung Quốc, bao trùm khu vực mấy trăm km chỉ mất vài phút.

- Một chỗ ngồi: Có nhiều thiết bị điện tử tự động hóa hơn, có thể hỗ trợ cho nhiệm vụ tấn công đối đất. Đồng thời cũng có loại hai chỗ ngồi.

- Vũ khí chính: Pháo 30 mm.

Tên lửa không đối không tầm ngắn PL-8, tên lửa không đối không tầm xa dẫn đường radar chủ động PL-12, tên lửa chống hạm hạng nặng YJ-62.

- Hệ thống nâng tổng thể lớn hơn so với J-11B.

- Việc hạ cánh càng mạnh: cường độ được nâng cao, đây là sự khác biệt lớn giữa máy bay trang bị cho tàu sân bay và máy bay cất/hạ cánh trên mặt đất, độ dài đường băng tàu sân bay có hạn, phải dựa vào dây cáp để hạ cánh với cự ly ngắn.

Đông Bình (Theo Liên hợp Buổi sáng/gdvn)
-->Đọc thêm...

Các kịch bản xung đột Iran-Israel (kỳ 1)

(12/11/2011 10:38:02) - Đất rộng, người đông GDP năm 2010 ước tính tới 357 tỷ USD, Iran có đầy đủ các yếu tố để trở thành một trong những nước có tiềm lực quân sự mạnh nhất khu vực.
Kỳ 1: Tiềm lực quân sự IranTrong thời gian gần đây, bất chấp những lời đe dọa trừng phạt của Mỹ, Israel và đồng minh, Iran vẫn bảo lưu quan điểm về chương trình hạt nhân của mình.

Chắc chắn Iran không thể không biết hậu quả của những nước đi ngược lại lợi ích của các nước phương Tây qua các cuộc chiến tại Afghanistan, Iraq và mới đây nhất là Libya. Tuy nhiên thái độ cứng rắn của Iran không phải không có cơ sở nếu chúng ta nhìn vào tiềm lực quốc phòng của đất nước này.

Không giống như các nước khác, lực lượng vũ trang của Iran chia thành hai nhánh chính hoạt động khá độc lập với nhau gồm Quân đội Cộng hòa Hồi giáo Iran (IRIA - Islamic Republic of Iran Army) chịu trách nhiệm về chiến đấu bảo vệ lãnh thổ và Lực lượng Vệ binh Cách mạng (IRGC - Islamic Revolution Guardians Corps) phụ trách các vấn đề an ninh.
 

Các binh sĩ Iran tham gia duyệt binh.

Dù quy mô và nhiệm vụ không giống nhau nhưng cả 2 lực lượng này đều có các binh chủng hải, lục và không quân riêng. Riêng IRGC còn có lực lượng đặc nhiệm Quds và Binh chủng tên lửa đối đất của Iran.

Hiện tại, IRIA đang có trong tay 465.000 binh lính, trong đó 230.000 người là quân nhân chuyên nghiệp và 235.000 người là lính nghĩa vụ, còn IRGC có quy mô 125.000 lính chính quy và khoảng 90.000 dân binh thuộc lữ đoàn bán vũ trang Basij.

Trước cách mạng Hồi giáo năm 1979, Iran là một trong những đồng minh thân cận của phương Tây, vì vậy quân đội nước này đều được trang bị những vũ khí Âu Mỹ tối tân hiện đại nhất như trực thăng tấn công AH-1J, máy bay tác chiến không đối không tầm xa F-14 Tom Cat...

Tuy nhiên, sau cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979, bị phương Tây cấm vận, Iran đã mở rộng nguồn cung cấp vũ khí ra các thị trường mới như Nga, Trung Quốc, Brazil... và đặc biệt là đã đạt được nhiều thành công trong việc hiện đại hóa nền công nghiệp quốc phòng, từ đó đã tự túc được rất nhiều loại vũ khí khí tài hiện đại.

Vị trí địa lý của Iran trong khu vực.
Hải quân
Nắm giữ vùng biển quan trọng, trong đó có eo biển Hormuz với 40% lưu lượng dầu thô giao dịch trên thế giới, Iran đang cố gắng xây dựng một lực lượng hải quân lớn và có sức mạnh đáng kể.

Đặc biệt, do yếu tố địa lý nhỏ hẹp của vùng vịnh Persian, xác suất cao phải chiến đấu với các quốc gia có tiềm lực hải quân mạnh hơn, Iran đã đầu tư mạnh vào lực lượng tàu cao tốc tấn công trang bị tên lửa và lực lượng tàu ngầm.
 

tàu đệm không khí trang bị tên lửa chống hạm của Iran.

Hải quân Iran hiện nay sở hữu một lực lượng lớn gồm 28.000 binh sĩ; 13 tàu ngầm các loại, 5 hộ vệ hạm; 3 tàu tàu hộ vệ cỡ nhỏ; 98 tàu tuần tiễu và hơn 100 tàu cao tốc tấn công có trang bị tên lửa.

Ngoài ra, binh chủng này cũng sở hữu lực lượng không quân riêng với 65 máy bay, trong đó có cả máy bay săn ngầm P-3 Orion do Mỹ sản xuất.
 

Iran đang vận hành 3 tàu ngầm tấn công lớp Kilo do Nga sản xuất.

Trong số tàu ngầm của Iran sở hữu, nổi bật nhất là 3 chiếc Project 877EKM lớp Kilo do Nga sản xuất. Dù vậy, đây là những chiếc Kilo biến thể đầu tiên nên tính năng hoạt động và vũ khí không thể so sánh với những chiếc Kilo Project 636 Nga bán ra sau này.

Ngoài ra, những chiếc tàu ngầm còn lại đều thuộc lớp Nahang và Ghadir do nước này tự sản xuất, vốn là những tàu ngầm mini có lượng giãn nước chỉ từ 150 - 400 tấn và khả năng chiến đấu rất hạn chế.
 

Một chiếc tàu ngầm mini lớp Ghadir đang được hoàn thiện trong nhà máy.

Năm 2008, Iran  công bố nước này đã bắt đầu đóng chiếc tàu ngầm tấn công nội địa đầu tiên giãn nước trên 1.000 tấn có tên Qaem.

Theo những thông tin phía Iran cung cấp, loại tàu ngầm này sẽ được trang bị nhiều công nghệ hiện đại, trong đó vũ khí sẽ bao gồm cả ngư lôi và tên lửa.
 

tàu hộ vệ Jamaran là chiếc tàu chiến hiện đại nội địa lớn nhất hiện nay của Iran.

Về lực lượng tàu nổi, không chỉ đầu tư vào các tàu cao tốc tên lửa với nhiệm vụ phòng vệ, Iran cũng đang bắt tay đóng các chiến hạm lớn, trang bị vũ khí mạnh, có khả năng tác chiến dài ngày để gia tăng sự hiện diện của nước này trên các vùng biển quốc tế.

Tiêu biểu cho những chiến hạm này là hộ vệ hạm lớp Moudge có tên Jamaran mới được Iran hoàn thành. Jamaran là một tàu chiến tấn công có khả năng tác chiến rất mạnh, được trang bị 4 tên lửa chống hạm Noor (biến thể nội địa Iran sản xuất theo tên lửa C-802 của Trung Quốc) tầm bắn 200 km; tên lửa phòng không Fajr (copy tên lửa SM-1 của Mỹ)  cùng ngư lôi và pháo hạm 76 mm.

Vào thời điểm hiện nay, Iran cũng đang tiến hành đóng tàu hộ vệ lớp Moudge cải tiến với khả năng tác chiến vượt trội so với Jamaran. Dự tính chiếc hộ vệ hạm mới có tên Velayat sẽ phục vụ hải quân Iran trong tương lai gần.
 

Những chiếc tàu cao tốc này có thể đạt tốc độ tới 150 km/h. Cùng với tên lửa chống hạm, nó sẽ là mối đe dọa chết người với các tàu chiến tại vùng biển nông thuộc vịnh Persian
Máy bay F-14A Tomcat của Không quân Iran.
Một phi đội gồm máy bay F-14, F-4 và Mig-29 của không quân Iran bay biểu diễn.
Máy bay Azarakhs (sấm sét) của Iran chế tạo dựa trên F-5E của Mỹ
Máy bay F-16 Mỹ bán cho chính quyền Shas của Iran.
Phòng không - không quân
Nhằm bảo vệ các mục tiêu quan trọng, đặc biệt là cơ sở hạt nhân, Iran đã xây dựng một lực lượng phòng không - không quân đông đảo và có chất lượng cao trong khu vực.

Không quân Iran vào giai đoạn trước cách mạng Hồi giáo đã sở hữu những trang bị hiện đại nhất khu vực. Dưới sự trị vì của vương triều Shas, Mỹ đã viện trợ và bán cho Iran 160 máy bay F-16, 79 máy bay F-14A Tomcat, 32 máy bay F-4D Phantom, 177 máy bay F-4E, 16 máy bay trinh sát điện tử RF-4E Phantom II, 140 máy bay F-5E và 28 máy bay F-5F hai chỗ ngồi.

Sau khi bị cấm vận từ năm 1979 cùng với cuộc chiến tranh Iran - Iraq, Iran đã dần cạn kiệt nguồn phụ tùng thay thế cho những máy bay này, do đó, số máy bay phương Tây còn phục vụ hiện nay trong quân đội Iran không còn nhiều (chỉ còn khoảng 25 chiếc F-14A và hơn 100 máy bay F-4; F-5 còn đang hoạt động).

Dù vậy, Iran cũng đã đạt được thành tựu khi không chỉ sản xuất được phụ tùng thay thế mà còn có khả năng tự nâng cấp những loại máy bay này. Tiêu  biểu Iran đã sản xuất được máy bay Saeqeh, biến thể nâng cấp của máy bay F-5A và Azarakhsh là loại máy bay tự sản xuất hoàn toàn dựa trên máy bay F-5E của Mỹ.

Sau nămm 1979, Iran cũng đã mua khá nhiều máy bay từ các nước khối XHCN như máy bay tiêm kích J-7M của Trung Quốc, Mig-29, Su-24MK của Nga và máy bay vận tải Il-76TD.

Một nguồn cung cấp máy bay cho Iran không thể không kể đến là những chiếc máy bay do phi công Iraq đào tẩu khi Mỹ tấn công Iraq trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất gồm các loại như Mirage-F1 (ít nhất một phi đội), Su-24MK (Fencer-D), Mig-29, Su-22M, Su-25, Mig-24 và Il-76.

Trong số các máy bay này, những chiếc Mirage F1 và Su-24MK vẫn còn đang phục vụ bình thường trong lực lượng Không quân Iran.

Chiếc máy bay cảnh báo sớm (AEW) Il-76 Adnan này là do các phi công Iraq "biếu không" cho Iran

Ngoài ra, công nghiệp Iran cũng đã tự chủ trong việc sản xuấ nhiều loại máy bay trực thăng và máy bay huấn luyện theo các nguyên mẫu nước ngoài như Shavabiz 75 (biến thể của trực thăng Bell 214C), Shahed 274 (chủ yếu dựa theo trực thăng Bell-206), máy bay huấn luyện JT2-2 Tazarv, máy bay huấn luyện hạng nhẹ Parastu ( biến thể của máy bay F33 Bonanza do Mỹ sản xuất).

Không những sở hữu số lượng máy bay hùng hậu, không quân Iran cũng đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm tác chiến từ cuốc chiến tranh 9 năm với người láng giềng Iraq. Đồng thời, qua cuộc chiến này, Iran cũng đã làm chủ được nhiều loại vũ khí của cả phương Tây và khối XHCN.

Trong những năm gần đây, bên cạnh việc tự phát triển các loại máy bay chiến đấu mới, Iran cũng đang nỗ lực tìm nguồn cung cấp các chiến đấu cơ hiện đại. Trong số các loại máy bay nước này quan tâm có thể kể đến máy bay chiến đấu đa nhiệm Su-30 của Nga, J-10 hay JF-17 Thunder của Trung Quốc. Tuy nhiên, dưới áp lực của Mỹ và phương Tây, hiện Iran chưa ký được một hợp đồng nào để mua những loại máy bay này.
 

Iran tự nhận là nước đầu tiên chế tạo tên lửa đánh chặn tên lửa không đối không.
Tên lửa có thiết kế giống S-300 của Nga.
Tên lửa phòng không 2K12 Kub (SA-6) của Iran.
Dù sở hữu số lượng máy bay khá lớn, nhưng hầu hết những loại máy bay này đã lỗi thời khi so sánh với máy bay F/A-18 của Mỹ hay F-15, F-16 của Israel, do đó nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu quan trọng của Iran vẫn phải dựa nhiều vào lực lượng phòng không.

Tương tự không quân, lực lượng phòng không Iran cũng sở hữu nhiều loại vũ khí khác nhau của cả phương Tây và Nga.

Ngoài các hệ thống tên lửa phòng không cũ như S-200, 2K12 Kub, S-125 (Nga), MIM-23 Hawk, SM-1 (Mỹ), mới đây Iran cũng đã mua 29 hệ thống phòng không tầm ngắn Tor của Nga. Đây là hệ thống phòng không cơ động, có khả năng phản ứng nhanh và có thể đối phó với các tên lửa hành trình.

Ngoài ra, quân đội Iran cũng được trang bị nhiều loại tên lửa tầm nhiệt vác vai hiện  đại như SA-16/18 Igla, RBS-70 của Thụy Điển.
Bên cạnh tên lửa phòng không, Iran cũng được trang bị mạng lưới pháo phòng không tầm thấp dày đặc, trong đó có cả những hệ thống hiện đại điều khiển bằng máy tính, dẫn bắn bằng radar và thiết bị ngắm quang điện tử như Skyguard do Thụy Sĩ sản xuất.

Ngoài ra, công nghệ quốc phòng của Iran cũng làm chủ, sản xuất được nhiều loại tên lửa phòng không hiện đại khác.

Đáng kể nhất là tên lửa biến thể S-300 (Iran tuyên bố tự sản xuất sau khi hợp đồng mua bán với Nga bị đổ bể, có thể có sự hỗ trợ kỹ thuật và linh kiện từ Nga hoặc Belarus), tên lửa Messad (là biến thể nâng cấp của tên lửa MIM-23 Hawk của Mỹ với radar và thiết bị điều khiển mới, có độ chính xác và tầm bắn vượt xa nguyên bản.
 

Binh sĩ Iran đang vận hành pháo 35 mm trong hệ thống phòng không Sky Guard

Tên lửa
Lực lượng tên lửa đối đất là “nắm đấm” đáng gờm của Iran đối với các quốc gia có ý định tấn công nước này, đặc biệt là Israel.
Từ những tên lửa Scud mua ban đầu của Nga và một phần nhờ sự giúp đỡ của Trung Quốc, Triều Tiên, Iran đã tự chế tạo được rất nhiều loại tên lửa đạn đạo nguy hiểm.

Bước đầu, Iran đã thành công trong việc chế tạo các tên lửa đạn đạo tầm ngắn hoạt động bằng nhiên liệu lỏng như Shahab-1 (tầm bắn 350 km, dựa trên tên lửa Scud-B), Shahab-2 (tầm bắn 750 km, dựa trên Scud-C).
 

Tên lửa đất đối đất Fateh-110 có tầm bắn 300 km với tốc độ tới 1.200 m/s nên gần như không thể đánh chặn.

Sau đó, Iran ngày càng tiến bộ khi đã thành công trong việc chế tạo các tên lửa tầm trung có tầm bắn từ 2.000 - 3.000 km, có khả năng vươn tới Israel và toàn bộ các căn cứ quân sự của Mỹ tại vùng Vịnh.

Đặc biệt, các tên lửa mới này (như Shahab-3 tầm bắn từ 1.200 - 2.000 km; Ghadr-110 tầm bắn 2.500 - 3.000 km, Sajjil-2 tầm bắn 2.000 - 2.500 km) đều sử dụng nhiên liệu rắn, do đó thời gian triển khai phóng sẽ nhanh hơn và đối phương có ít thời gian chống trả hơn.
 

Tên lửa Sajjil có tầm bắn tới 2.500 km và có khả năng mang đầu đạn hạt nhân

Thêm nữa, những tên lửa như Ghadr-110 có thể mang đầu đạn nặng tới 750 kg, nghĩa là chúng hoàn toàn có thể được vũ trang bởi đầu đạn hạt nhân nếu Iran làm chủ được công nghệ vũ khí nguyên tử này.
 

Súng trường tấn công Khaybar KH-2002 do Iran tự chế tạo
Bộ binh
Dù xác suất có một cuộc tấn công bằng bộ binh của Mỹ hay Israel vào Iran là rất nhỏ nhưng không vì thế mà Iran sở hữu lực lượng lục quân yếu.

Lực lượng lục quân Iran đang sở hữu một lực lượng lớn với 350.000 binh sĩ, trong đó 130.000 người là quân nhân chuyên nghiệp, còn lại là lính nghĩa vụ.

Kể từ sau cách mạng Hồi giáo năm 1979, lực lượng lục quân Iran đã được biên chế lại với ba sư đoàn bộ binh cơ giới, 7 sư đoàn bộ binh, một lữ đoàn dù và một sư đoàn đặc nhiệm.

Năm 2004, lực lượng này lại được tổ chức lại một lần nữa với bốn sư đoàn cơ giới, 6 sư đoàn bộ binh, hai lữ đoàn đặc nhiệm và một lữ đoàn dù cùng một số đơn vị độc lập khác.
 

Pháo Koksan 175 mm do Triều Tiên sản xuất trong biên chế quân đội Iran

Sư đoàn đặc nhiệm số 23 của Iran hiện là đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội nước này với 5.000 quân nhân chuyên nghiệp. Sư đoàn này được chia thành 4 lữ đoàn bao gồm một lữ đoàn hỗ trợ đường không và các lữ đoàn cơ giới hỗn hợp, bao gồm cả một lữ đoàn đổ bộ đường biển được tổ chức tương tự lực lượng thủy quân lục chiến của phương tây.

Hỗ trợ lực lượng bộ binh này là 65 máy bay tấn công mặt đất cùng 320 trực thăng chở quân và chiến đấu, bao gồm chủ yếu là máy bay AH-1J do Mỹ sản xuất.

Hiện lục quân Iran vẫn vận hành nhiều loại vũ khí của cả Nga và phương Tây như xe tăng M-60 của Mỹ, Chieftaincủa Anh, T-54, T-62 và T-72 của Nga. Ngoài ra, Iran cũng có loại xe tăng nội địa với tên Zulfiqar.

Ba biến thể của xe tăng này là Zulfiqar-1 và Zulfiqar-3 sử dụng nhiều chi tiết của cả xe tăng Mỹ và Nga như pháo 2A46 125 mm sản xuất theo pháo của xe tăng T-72 và hệ thống xích, nhún lấy từ xe tăng M-60 của Mỹ.

Iran cũng tự nâng cấp hầu hết số xe tăng T-54 của mình lên chuẩn mới với tên Safir-74 hay còn gọi là T-72Z.
 

Xe tăng Zulfiqar-3, mẫu xe tăng mới nhất của Iran được cho là có tính năng không kém các xe tăng hiện đại phương Tây

Ngoài ra, Iran cũng tự sản xuất được nhiều hầu hết các loại vũ khí bộ binh như súng trường tấn công Khaybar KH-2002, tên lửa chống tăng Toophan...mặc dù những vũ khí này vẫn dựa một phần hay hoàn toàn vào thiết kế của vũ khí nước ngoài.

Có thể thấy hiện nay Iran đang sở hữu một lực lượng quân đội hùng mạnh trong khu vực. Vũ khí nước này dù chưa phải quá hiện đại và khá lộn xộn do pha trộn giữa hai hệ vũ khí phương Tây và Nga - Trung Quốc, tuy nhiên, nhờ đầu tư nghiêm túc vào công nghiệp quốc phòng, Iran dần đã tự chủ và ngày càng hiện đại hóa được trang thiết bị quân sự của mình.

Nếu Mỹ và Israel muốn đối phó với đất nước này thì những gì đã làm với Iraq hay Afghanistan chắc chắn là không đủ.

Đồng Tâm/Theo Đất Việt
-->Đọc thêm...

Tiềm lực quân sự Israel

(11/11/2011 08:18:06) - Israel có kho vũ khí phong phú với nhiều loại xe tăng, tàu ngầm, máy bay chiến đấu, tên lửa và súng ống hiện đại có nguồn gốc nước ngoài hoặc tự sản xuất.



Xe tăng Merkava Mark IV, phiên bản mới nhất của dòng chiến xa Merkava được sản xuất từ năm 1999. Với chi phí ra lò là 4,5 triệu USD/chiếc, xe tăng Merkava Mark IV là một loại khí tài hiện đại. Nó được trang bị hệ thống kiểm soát hỏa lực nâng cấp, hệ thống quản lý chiến đấu kỹ thuật số, khả năng sửa chữa nhanh chóng khi gặp sự cố.

Quân đội Israel hiện có 320 xe tăng Merkava Mark IV trong biên chế, trong khi số xe tăng cùng loại nhưng khác phiên bản là 1.360 chiếc. Đây là những chiến xa chủ lực của Israel và do nước này tự chế tạo. Ảnh: Zahaf
Ngoài dòng xe tăng Merkava, Israel còn có một loại chiến xa đáng chú ý khác là Magach, với phiên bản mới nhất là Magach 7.

Ngoài dòng xe tăng Merkava, Israel còn có một loại chiến xa đáng chú ý khác là Magach, với phiên bản mới nhất là Magach 7 được phát triển theo mẫu xe tăng M60 Patton của Mỹ. Tổng số chiến xa Magach đang có trong biên chế của quân đội Israel là 1.550 chiếc. Ảnh: Wikipedia

Xe bọc thép IDF Achzarit được Israel sản xuất dựa trên thiết kế của xe tăng T-54/T-55 của Liên Xô cũ. IDF Achzarit được sử dụng để vận chuyển binh sĩ và được trang bị một số loại súng có hỏa lực mạnh. Quân đội Israel hiện có 215 xe bóc thép này trong biên chế. Ảnh: Wikipedia
Pháo tự hành

Israel hiện có tới 600 cỗ pháo tự hành M109 155mm. Đây là mẫu pháo tự hành do Mỹ thiết kế và chế tạo. Ảnh: Military-today
Tên lửa hành trình Nimrod

Tên lửa chống tăng tầm xa Nimrod là một sản phẩm tự chế tạo của Israel. Loại tên lửa này có thể được bắn đi từ trên không hoặc từ dưới mặt đất. Ngoài mục đích theo thiết kế nhằm tấn công xe tăng của đối phương, tên lửa Nimrod còn có khả năng đánh phá các xe bọc thép, tàu chiến, boong ke... Tên lửa có thể đạt tốc độ 2.000 km/giờ này được trang bị hệ thống dẫn đường laser, vì thế nó có thể hoạt động cả ngày lẫn đêm. Ảnh: Wikipedia

Quân đội Israel còn đang sử dụng tên lửa chống tăng BGM-71 TOW do Mỹ sản xuất từ năm 1970. Đây là một trong số những tên lửa chống tăng được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay. Ảnh: Wikipedia

Không quân Israel sử dụng máy bay chiến đấu F-15E Strike Eagle do Mỹ chế tạo. Đây là loại phi cơ tiêm kích có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, với tầm hoạt động rộng và có khả năng tiến sâu vào lãnh thổ của đối phương. F-15E Strike Eagle là một khí tài lợi hại dành cho đòn tấn công phủ đầu, nhằm làm nhụt ý chí chống trả, tạo điều kiện cho các đơn vị khác tấn công. Ảnh: Wikia

Ngoài F-15E Strike Eagle, quân đội Israel còn có một loại chiến đấu cơ chủ lực khác là F-16I Sufa. Đây là loại máy bay tiêm kích được dựa trên mẫu F-16 của Mỹ, nhưng đã có nhiều cải tiến. Israel đã thay mới 50% số thiết bị điện tử hàng không trên chiếc F-16l Sufa. Israel hiện có khoảng hơn 100 chiếc F-16l Sufa. Ảnh: Patricksaviation

Không quân Israel sử dụng nhiều loại trực thăng tấn công khác nhau, trong đó nổi bật là AH-64 Apache do hãng Boeing của Mỹ sản xuất. Loại trực thăng này được điều khiển bởi hai phi công và được trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại, cùng các hệ thống hỗ trợ hữu hiệu, đặc biệt là hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (GPS). Ảnh: Primeportal

Israel cũng đầu tư nghiên cứu và phát triển một số loại máy bay không người lái phục vụ mục đích quân sự. Từ trái qua phải là các máy bay không người lái IAI Heron, IAI Eitan, IAI Harpy, IAI Harop, Elbit Hermes 450 và Elbit Skylark. Ảnh: Robostuff, Xnir, Aviantionweek, Defenseindustrydaily, Typepad

Tàu ngầm lớp Type 800 Dolphin của Israel là loại tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel do Đức sản xuất. Nó được dựa trên mẫu tàu ngầm lớp 209 mà Đức chế tạo để dành riêng cho việc xuất khẩu tới các khách hàng nước ngoài. Tàu ngầm lớp Type 800 Dolphin có chi phí đóng mới hàng trăm triệu USD mỗi chiếc và được coi là một trong những loại tàu ngầm có thiết kế phức tạp cũng như hiệu quả hoạt động hàng đầu trên thế giới. Israel hiện có 3 chiếc loại này và đang đặt hàng 3 chiếc nữa. Ảnh: Shlomiliss

Tàu hộ tống lớp Sa'ar 5 là một mẫu cải tiến từ tàu hộ tống lớp Sa'ar 4,5. Hải quân Israel đang vận hành 3 tàu loại này. Đây là những chiến hạm có sức mạnh nhất trong hạm đội hải quân của Israel. Dù mang danh là tàu hộ tống nhưng Sa'ar 5 lại được trang bị hệ thống vũ khí và có tốc độ di chuyển ngang với các khu trục hạm. Ảnh: Wordpress

Nhật Nam/vnexpress
-->Đọc thêm...

4 lĩnh vực hợp tác quân sự Việt Nam - Ấn Độ

(10/11/2011 15:25:18) - Theo hãng tin Hindu của Ấn Độ hôm 9/11 cho biết, Việt Nam đang đề nghị Ấn Độ trợ giúp về quân sự, trong đó tập trung chủ yếu là lĩnh vực Hải quân.
Nguồn tin cho biết, trong chuyến sang thăm chính thức Ấn Độ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từ ngày 11-15/10, hai bên đã thảo luận về nhiều lĩnh vực hợp tác, trong đó Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đề nghị Ấn Độ giúp đỡ cho việc hiện đại hóa quân đội Việt Nam trên 4 lĩnh vực.

Cụ thể, Thứ nhất, Việt Nam đề nghị phía Ấn Độ giúp đỡ Việt Nam xây dựng hạm đội tàu ngầm Kilo mà Việt Nam đặt mua của Nga.

Thứ hai, Việt Nam bày tỏ mong muốn Ấn Độ đào tạo cho phi công lái các máy bay Su-30.

Thứ ba, Ấn Độ sẽ giúp Việt Nam hiện đại hóa cảng chiến lược và chuyển giao cho một số tàu chiến cỡ trung bình.

Sau cùng là thỏa thuận cung cấp các tên lửa hành trình tiên tiến BrahMos.

Minh họa 4 lĩnh vực hợp tác quân sự giữa Việt Nam và Ấn Độ.

Nguồn tin cũng cho biết, phía Ấn Độ đã thể hiện thái độ "tích cực" đối với việc đào tạo các phi công lái máy bay Sukhoi cho Không quân Việt Nam. Ấn Độ từng đào tạo phi công lái máy bay Su-30MKM cho Malaysia.

Đặc biệt, Ấn Độ đang xem xét về đề nghị của Việt Nam để chuyển giao các tàu chiến cỡ trung bình, trọng tải từ 1.000 - 1.500 tấn cho Hải quân Việt Nam và nâng cấp cảng Nha Trang, có vị trí ở gần Vịnh Cam Ranh.

Phạm Thái/Theo Hindu - Đất Việt
-->Đọc thêm...

"Châu Á-TBD có nguy cơ lao vào chạy đua vũ trang"

(10/11/2011 14:56:03) - Theo AFP, Chủ tịch Liên minh châu Âu (EU) Herman Van Rompuy ngày 9/11 cảnh báo khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang thể hiện những dấu hiệu quân sự hóa có thể dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang.
Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
Ông Rompuy đồng thời kêu gọi tăng cường hơn nữa các quan hệ thương mại nhằm giải tỏa mọi căng thẳng chính trị.

Phát biểu tại trường Đại học Zurich, ông Rompuy nói: "Trong khi châu Âu là lục địa nguy hiểm nhất trong thế kỷ 20, trọng tâm của các phân tích an ninh và các nhà hoạch địch chiến lược sức mạnh cứng gần đây đã hướng sang những diễn biến tại châu Á-Thái Bình Dương. Họ chưa thấy xuất hiện một cuộc chạy đua vũ trang toàn diện, song xét tới chi tiêu quân sự và tâm lý đối đầu, giả thuyết về một cuộc chạy đua vũ trang là có."

Ông Rompuy nêu rõ: "Điều quan trọng là tiếp tục tăng cường các quan hệ kinh tế tại khu vực này, nhằm khiến việc tiến hành một cuộc chiến tranh trở thành "điều không thể."

Lưu ý rằng EU là một đối tác thương mại chủ chốt của các nền kinh tế hàng đầu tại khu vực, ông Van Rompuy nêu rõ liên minh này "không chỉ có quyền lợi tại một khu vực châu Á-Thái Bình Dương ổn định, mà chính EU còn là một nhân tố đóng góp cho sự ổn định này."./.

Theo Vietnam+

-->Đọc thêm...